Thật ra "Đạo" không thể dùng ngôn ngữ để miêu tả nó, nhưng dù sao tôi cố gắng gượng gạo dùng ngôn ngữ để mô tả cái bóng của Đạo thử ...
Trong các tờ
báo “Thanh niên” liên tục trong mấy năm gần đây, mỗi tờ báo (báo Thanh niên là
nhật báo) đăng không dưới 5 bài viết về những tệ nạn hoặc là những vấn nạn mới
xuất hiện trong toàn quốc. Có những chuyện đau lòng được đăng liên tục mấy kỳ về
diễn biến của nó. Ví dụ như báo Thanh niên số ra hôm nay thứ tư ngày 1.2.2012
có đăng 03 bài viết dài “Cần sớm khởi tố vụ gian lận xăng dầu” (trang 4);
“Chính quyền thuê “người ngoài” trông coi đầm ông Vươn” (trang 5); “Bóng đá xấu
xí do lờn thuốc” (trang 16). Ngoài ra tại trang 18 có đăng trên 6 bài tin ngắn
về các vấn nạn, tệ nạn như “Thua bầu cua tự tử”; “Đâm chết người rồi bỏ trốn”;
“Choảng nhau trong quán nhậu ”; “Hỗn chiến 1 người chết”; “Rác tràn lan trước
trường học”; “Quốc lộ hay đường làng” vv…Các tệ nạn xảy ra ở đủ các lĩnh vực, đủ
các địa phương từ Bắc vào Nam.
Như vậy nếu
tính ước lượng mỗi ngày có 5 tệ nạn, vấn nạn lớn nhỏ được đăng báo, thì con số
này mỗi tháng sẽ là 5 x 30 = 150, và mỗi năm là 150 x 12 = 1800 tệ nạn nổi cộm
xảy ra trên toàn quốc, đó là chưa kể những tệ nạn nhỏ chưa đăng (hay quá đỗi
thường tình). Ngoài ra nếu đọc báo “Công an Đà nẵng” thì ôi thôi quá nhiều tệ nạn
đăng dày trên các trang báo mỗi kỳ. Trên thực tế nếu có thể ngồi tính nhẩm có
bao nhiêu tờ báo Công an các tỉnh thành và các nhật báo nữa thì con số các tệ nạn
quá ư nhiều. Đến nỗi hiện nay không có ngành nào không có vấn nạn. Người dân
thành phố Hồ Chí Minh ra đường thì phải xem chừng mất của, cướp giật, cẩn thận
coi chừng đâm chém vạ lây , cẩn thận coi chừng tai nạn giao thông. Thật sự rất
đau lòng khi phải chứng kiến những tệ nạn đó!
Nhưng dân tộc
Việt Nam ta đâu phải tất cả đều không biết đạo lý đối xử. Tôi thật sự băn khoăn
không lẽ chữ “đạo đức” bây giờ nó có nghĩa khác rồi sao? Chắc chắn là không thể,
nhưng cái ác bây giờ sao nó nhiều quá. Cái ác không phải là bản chất của dân tộc
ta, dân tộc ta là dân tộc “lấy đạo nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường
bạo”. Vì vậy tôi muốn viết đôi điều về ý nghĩa “đạo đức” của dân tộc ta qua các
thời kỳ lịch sử nhằm hy vọng góp phần nhỏ của mình lay tỉnh cái thiện nơi mỗi
người, được chăng !
I.
Ý nghĩa từ vựng
1.
Nghĩa
của “đạo đức”
Đạo đức là tập hợp
những quan điểm của một xã hội,
của một tầng lớp xã hội, của một tập
hợp người nhất định về thế giới,
về cách sống. Nhờ đó con người
điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội (Triết học Mác – Lê Nin)
2.
Chiết tự
“đạo đức” (道德)
3.
Đạo: (道) Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở.
4.
Đức: (德) Theo Khổng Tử,
sống đúng luân thường là có Đức.
Theo Đạo (Lão tử) tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi
người là có Đức.
5.
Luận
về “đạo”
Theo định nghĩa : Đạo: (道) Đường đi, hướng
đi, lối làm việc, ăn ở.
Nghĩa gốc của “đạo” là đường đi. Theo tính chất của đường
đi thì phải lưu thông được, như vậy “đạo” tức lưu thông, không lưu thông tức
không phải “đạo”. Tương tự nếu hiểu “đạo” là hướng đi, lối làm việc, cách ăn ở
thì tất cả phải “thông suốt” mới gọi là “đạo” được
Như vậy tất cả
các cách mà con người “đối xử” với nhau trong các hiện tượng tiêu cực xã hội hiện
nay mà báo “Thanh niên” phản ảnh nó không được “thông suốt”, nó “bị tắc nghẽn” ở
những “cơn giận”, những “lòng tham” mà sinh ra cách đối xử “khác thường” tàn nhẫn
với nhau.
Thật sự ra “đạo”
không bị tắc nghẽn, nó như “nước” vậy, nó luôn thông chảy từ cao xuống thấp, gặp
vật cản, nó “uốn lượn” và đi qua. Nhưng gặp “vật cản” lớn như bờ đê thì nó
“tích tụ” lại “chờ đủ lượng” sẽ “tức nước vỡ bờ”.
Trong chữ “đức”
德có bộ song nhân ㄔ , có bộ thập 十, bộ tứ, 四, bộ nhất 一 và bộ tâm 心. Tất cả thập tứ đều nằm trên một tâm.
Điều này có nghĩa là trong “một tâm” có tất cả “mười bốn hướng” tức trong tâm
có cả thế giới, hay nói cách khác “đức” là “tâm con người đối xử với người theo
cách hòa hợp với thế giới vũ trụ”
Như vậy “đạo
đức” là sự đối xử giữa người và người sao cho hòa hợp với sự thông suốt của thế
giới vũ trụ để cùng nhau phát triển theo hướng chân thiện chớ không theo hướng
tà tâm.
Theo
khái niệm trong giáo trình đạo đức thì :
Đạo đức được xem là khái niệm
luân thường đạo lý của con
người, nó thuộc về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng
trong 3 phạm vi: lương tâm con người,
hệ thống phép
tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với
nền văn hoá,
tôn giáo,
chủ nghĩa nhân văn, triết học
và những luật lệ của một xã hội về
cách đối xử từ hệ thống này.
Đạo đức thuộc
hình thái ý thức xã hội, là tập hợp
những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của
con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc
quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền
thống và sức mạnh của dư luận xã hội[1].
(Học viện
chính trị Quốc gia. Giáo trình đạo đức học. Hà Nội-nxb Chính trị Quốc gia,
2000, trang 816))
Thật sự trong nghĩa “đạo đức” cái cần nắm nghĩa cốt
lõi chính là “đạo”, tức phải luôn “thông suốt” rõ ràng trong mọi hành động đối
xử. Khi ta làm với tâm tà, tâm tham thì khi “gặp” những “cản trở” tâm tà, tâm
tham thì “đạo” trong người tâm tham do tính “thông suốt” nó biến thành “sân giận”
và biểu hiện là những “hành động tàn ác” muốn “chặt phăng” những “cản trở” tâm
tham tâm tà của mình. Khi ta làm việc với “tâm thiện” thì cái “cản trở” chính
là những “việc không thiện”, nên ta muốn tiếp tục làm việc thiện thì phải đấu
tranh (vượt qua) cái “bất thiện”.
Còn nghĩa chữ “đức” rõ ràng mang ý chân
chính vì nó có nghĩa hợp “lẽ trời đất, lẽ con người”. Như vậy ta cần hiểu rõ như thế nào là hợp “lẽ trời đất, lẽ con người” ?
Trong triết
học Mác – Lê Nin có viết
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự
phản ánh của các quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của
chế độ chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Lợi ích
của giai cấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có; trái
lại, giai cấp bị bóc lột tuỳ theo nhận thức về tính bất công của những quan hệ
ấy mà đứng lên đấu tranh chống lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình.
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Đồng thời, đạo đức cũng có
tính kế thừa nhất định. Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau, nhưng xã
hội vẫn giữ lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung.
Tính kế thừa của đạo đức phản ánh "những luật lệ đơn giản và cơ bản của
bất kì cộng đồng người nào" (Lênin). Đó là những yêu cầu đạo đức liên
quan đến những hình thức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người. Mọi thời
đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội... và biểu
dương cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn... "không ai
nghi ngờ được rằng nói chung đã có một sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về
tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại" (Enghen). Quan hệ giữa người
với người ngày càng mang tính nhân đạo cao hơn. Ngay trong xã hội nguyên thuỷ
đã có những hình thức đơn giản của sự tương trợ và không còn tục ăn thịt người.
Với sự xuất hiện của liên minh bộ lạc và nhà nước, tục báo thù của thị tộc dần
dần mất đi. Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ là việc riêng của chủ nô, đến xã
hội phong kiến, việc giết nông nô bị lên án. Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá
nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc; đạo đức tư sản giải phóng cá nhân,
coi trọng nhân cách.
Do vậy Enghen có nhận định : "Nhưng chúng ta vẫn
chưa vượt được khuôn khổ của đạo đức giai cấp. Một nền đạo đức thực sự có tính
nhân đạo, đặt lên trên sự đối lập giai cấp và mọi hồi ức về sự đối lập ấy chỉ
có thể có được khi nào xã hội đã tới một trình độ mà trong thực tiễn của đời
sống, người ta không những thắng được mà còn quên đi sự đối lập giai cấp".
Như
vậy “lẽ trời đất” chính là các quy luật thiên nhiên, “lẽ con người” lại do
chính xã hội đang sống quy ước với nhau. Nhưng dù sao các đối xử giữa người vói
nhau phải có tính “nhân đạo” cho dù ở bất kỳ chế độ xã hội nào, mà “nhân đạo”
có nghĩa là “yêu người”.
Vấn
đề đặt ra là làm sao để mọi người yêu quý lẫn nhau!?, trong khi người này thì
“cản trở” người kia không được tham lam mê muội và người tham lam thì “cản trở”
người kia làm điều thiện hoặc căm ghét những ai cản trở lòng tham của họ?
Ở
đây ta cần phải nhấn mạnh lại một lần nữa về nghĩa lý của “đạo”: đạo tức phải lưu
thông thông suốt. Do vậy cho dù chúng ta nhìn sự vật hiện tượng thấy nó tàn ác
hay thánh thiện đều cũng là “đạo”. Có thể nói mọi hiện tượng do “đạo” lưu thông
vận hành nên “tạo tác” ra như vậy. Hiểu rõ được lý lẽ này của “đạo”chúng ta
nhìn nhận toàn bộ sự vật hiện tượng một cách khách quan hơn rất nhiều. Như vậy nếu
chúng t among muốn sự vật hiện tượng đi theo hướng “đạo đức” (tức thông suốt
theo lẽ trời đất) thì chúng ta phải “điều chỉnh” đạo theo lẽ phải đó, tức phải
kiên quyết đấu tranh với cái ác, cái xấu, không cho “đạo” chảy theo hướng bất
thiện.
Hình
vẽ dưới đây minh họa cho “đạo”

Hiểu rõ lẽ “đạo” như trên chúng ta dễ
dàng nhận ra bản chất các hiện tượng có đạo đức hoặc phi đạo đức trong xã hội.
Nếu chúng ta muốn “đạo” chảy theo hướng
thiện thì chúng ta cần chỉ rõ ràng bản chất các sự việc hiện tượng thực hành
nhân đạo.
Nếu chúng ta chỉ mong trở thành “đạo” để
sống an nhiên tự tại thì chúng ta trước tất cả các sự vật hiện tượng chẳng nghĩ
thiện cũng chẳng nghĩ bất thiện. Lúc này chúng ta không còn muốn “đạo đức” để
thành thánh nhân, cũng không muốn “phi đạo đức” để thành phàm phu ác quỷ gì cả.
Lúc này chúng ta trở thành “đạo nhân” an nhàn tự tại.
Còn bây giờ nếu ta muốn “đạo” chảy theo
hướng thiện thì
II.
Chỉ thẳng nguyên nhân – thực hành giải
pháp thực thi “nhân đạo” trên nền tảng nhân văn
1.
Tất
cả các vật, sự việc, hiện tượng trên thế giới đều không cố định, nên chỉ là tạm
gọi tên nó như vậy. Ta lo lắng phiền muộn sự vật nhiều hơn ta hạnh phúc với nó.
-
Chúng
ta không có thể gọi tên chính xác bất kỳ sự vật hiện tượng nào, bởi tất cả sự vật
hiện tượng luôn biến đổi từng giây phút. Vật mà ta thấy, ta nghe nó chỉ tạm có
hình tướng vậy, bản thân nó đang chuyển theo đúng “đạo”.
-
Bản
thân con người chúng ta là một khối vật chất, nó biến đổi không ngừng. Toàn bộ
thân ta đều do thu nạp vật chất ngoài tự nhiên tạo nên theo gien quy định. Ngày
hôm nay thân ta không giống ngày hôm qua vì nó thu vào và thải ra tạo mới. Tất
cả “cái biết” của ta do nghe thấy ngửi xúc chạm vị giác và suy nghĩ đều do các
cơ quan của thân ta tiếp nhận. Vì vậy tấm thân ta đã luôn thay đổi thì tất cả những
điều ta thấy, nghe, ngửi, xúc chạm, vị giác và suy nghĩ đều thay đổi theo thân.
Khi thân ta diệt thì tất cả “cái biết” cũng diệt theo. Nhưng thật ra không có
cái gì “bị diệt” cả, bởi khối vật chất thân ta nó “chuyển” theo dòng chảy của
“đạo”. Do vậy các nhà khoa học đã nhận ra rằng “Vật chất không mất đi, nó chỉ
chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác”. Ngay cả năng lượng mà ta “thấy”
có sinh ra nó cũng không bị diệt đi như định luật bảo toàn năng lượng đã phát
biểu “Trong toàn vũ trụ, tổng năng lượng không đổi, nó chỉ có thể chuyển từ hệ
này sang hệ khác. Người ta không thể "tạo ra" năng lượng, người ta chỉ
"chuyển dạng" năng lượng mà thôi.”
-
Nhận ra cái lẽ “đạo” này ta không còn buồn
khổ khi “mất đi” cái gì, bởi đâu có “cái gì để gọi là cái gì”.
2.
Vì sao ta lo lắng phiền muộn như vậy?
-
Ta lo lắng buồn phiền bởi ta lầm lẫn cho
cái này là có thật, cái kia là của ta, rồi ta sinh ra tham lam. Khi ta tưởng
cái ta tham nó “bị mất đi” nên ta nổi giận, ta lo lắng, ta buồn phiền. Nghĩ kỹ
lại ta bỗng “tức cười” vì sự lầm lẫn tai hại như vậy.
3.
Ta có thể “không cần” lo lắng phiền muộn
-
Tất cả sự lo lắng, phiền muôn là do tấm
thân ta “nghĩ ra” như vậy. Do chính thân ta “nghĩ ra” nên ta hoàn toàn có quyền
bỏ nó đi. Còn nếu ta không muốn “bỏ đi” là do tự thân ta vậy, chớ trách ai làm
ta phiền muộn nữa !
-
Nếu xét theo nghĩa “đạo” thì ví như ta để
cánh tay giang ra một giờ đồng hồ ở nguyên một vị trí chắc chắn tay ta mỏi rã rời.
Cũng tương tự, nếu ta “treo” một suy nghĩ liên tục không chịu chuyển sang suy
nghĩ khác, chắc chắc đầu óc ta “mệt mỏi rã rời”, phiền muộn nổi lên. Lý do:
không theo đúng lẽ “đạo”, vì “đạo” tức phải lưu thông.
4.
Làm sao ta khỏi lo lắng phiền muộn?
-
Nhưng trên thực tế lại “có” phiền muộn xảy
ra trong mọi người. Vậy để không phiền muộn đối với sự việc, sự vật, ta nên
theo các bước
1)
Nhìn đúng bản chất sự việc, sự vật
2)
Suy nghĩ đúng đắn về sự việc, sự vật đó
3)
Nói đúng về sự việc, sự vật đó
4)
Làm đúng (xử sự đúng) đối với sự việc, sự
vật đó
5)
Chọn nghề nghiệp đúng (nghề nghiệp không
tổn hại mọi người)
6)
Siêng năng nổ lực làm việc
7)
Luôn tự kiểm điểm bản thân
8)
“Tạm bỏ qua” sự việc, sự vật đó để tiếp
tục làm việc khác (không treo tư tưởng)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Giáo trình Triết học
[2] Giáo trình đạo đức
[3] Đạo đức kinh
[4]